Người
Mẹ Quê
L’amour est un champs de rose arrosé de pleurs. Tình yêu là một vườn hồng được tưới bằng nước mắt.
Phải
đến hơn năm tuổi mẹ tôi mới dụ được tôi đi học. Hôm ấy là ngày Chủ Nhật, hai mẹ
con đi lễ nhà thờ Couvent des oiseaux, gập được sơ Cêcilia, bạn học cũ của mẹ
tôi. Sau khi hỏi thăm súc khỏe gia đình tôi, sơ quay sang hỏi tôi đã đi học chưa.
Tôi chưa biết phải trả lời thế nào cho đỡ quê, thi mẹ tôi đỡ lời, “cháu nó còn
chờ bố nó về cho đi học trường tây”.
Thực ra thì trước
đây mẹ tôi có mang tôi đến cậu Liên, nhưng thấy cậu lúc nào cũng cầm cái roi,
nên tôi sợ không dám đi học. Một lần nữa đến gập thày giáo Tĩnh, thấy mặt thày
lúc nào cũng lạnh đồng tiền, tôi phát ớn. Khi thày xuống bếp pha bình trà, tôi
đã bỏ chạy về trước khi mẹ tôi về tới nhà.
Và hôm nay, tôi đã
bằng lòng đi học khi thấy khuôn mặt dịu hiền và nụ cười của sơ, nụ cười tươi như
Tuyết Vân của nhóm Tin Yêu.
Trường của sơ có
tên là St Thérèse, trường nằm bên cạnh dòng Mến Thánh Gía Hà Nội.
Đó là thời
gian đẹp nhất trong quãng đời thơ ấu của tôi. Đi học có những bạn bè chất phát
hiền hòa. Khi tan trường được mẹ và đôi khi được cả ma sơ đưa về nữa. Bao nhiêu kỷ niệm êm đềm đến với tôi trong thời
gian ấy. Có một hình ảnh mà mãi tôi không bao giờ quên. Hôm ấy là ngày thứ Bảy,
tôi được cả mẹ và sơ đưa về nhà. Đến một đoạn đường, sơ hỏi tôi lớn lên Thọ muốn
làm gì, tôi đang ấp úng chưa biết trả lời thế nào thì sơ hỏi tiếp:”chắc Thọ sẽ
làm thày giáo giống bố”, mẹ tôi trả lời hộ:”Cháu nó suốt ngày ngậm hạt thị, thì
là sao làm được thày giáo”. “Hay là Thọ chịu khó đi học, sơ hỏi tiếp, nay mai
làm ông to, có tiền về sửa sang nhà trường cho ma sơ”. Mẹ tôi lại đỡ lời:”cháu
nó yếu đuối lắm, làm ông bé còn không xong, thì làm sao làm được ông to”. “Phải
đấy, sơ tiếp, nay mai Thọ học làm bác sĩ, về chữa bệnh cho mẹ và ma sơ, luc ấy
chắc mẹ và ma sơ cũng gìa rồi”. Tôi lắc
đầu, và không để sơ hỏi tiếp, tôi lấy hết can đảm nói lên ước mơ thầm kín của
mình:” lớn lên, Thọ muốn đi tu dòng ma sơ”. Không biết câu ấy có gì tiếu lâm mà
hai bà đều lăn ra cười.
“Ôi vui sao ngày thơ
ấu”, ngày ấy thật là vui. Đi đâu cũng có mẹ. Mẹ là sự che chở, mẹ là niềm vui.
Có nhiều lần nhà trường tổ chừc tiệc trà, liên hoan, mẹ trổ tài nấu nướng, có cả
các chị học nội trú ở Couvent des oiseaux xuống xem và học cách nấu nướng, ai
cũng khen mẹ đẹp và dễ thương. Ngày ấy, mẹ là niềm hãnh diện và là người mẹ lý
tưởng.
Thế rồi một buổi
chiều.
Bố tôi trở về sau một
thời gian dài đi tu nghiệp ở Pháp. Sau khi chia quà cho họ hàng , hàng xóm, cả
nhà quây quần ăn bánh kẹo, những thứ quà trước đây chỉ đến trong giấc mơ. Rồi cả
nhà đọc kinh.
Đọc kinh xong,
bố tôi nói với mẹ:” Ngày mai, mẹ tắm rửa cho Thọ, mai bố cho Thọ đi học Lycée”.
Tôi nghe bố nói mà bỗng rụng rời, đang cầm thanh Sô cô la mà để rơi xuống đất.
Trước đây, tôi đã từng đì qua trường này vài lần. Có những lúc ra chơi, tôi thấy
mấy ông Tây đi qua đi lại ở sân chơi, mặt mũi ông nào cũng ngầu như quân dữ
đóng đinh Đức Chúa Giêsu, thấy mà phát khiếp. Có ai ngờ, ngày mai đây, tôi phải
nạp mạng cho mấy ông Tây này. Nhìn lên tượng Thập Gía, tôi thầm trách:” Chúa ơi,
mùa khổ nạn đã qua rổi (vì lúc ấy đã là tháng sáu), sao Chúa lại bắt con uống
chén đắng”. Tôi nguyện xin Chúa “hãy cất chén đắng cho con, đừng để con phải học
cái trường quái qủy này”. Nhưng Chúa đã không cất chén đắng cho tôi. Lúc ấy tôi
nghĩ có thể vì tôi không chịu đi học giáo lý, lại đi nhà thờ nghịch ngợm hơn là
nghe cha giảng, nên Chúa phạt cho biết thân.
Hôm sau thằng Chi,
đứa em họ rủ tôi đi học như thường lệ. Tôi đang xỏ dép thì bố tôi chận lại:”hôm
nay con đi học trường mới rồi, nghỉ ở nhà, chiều đi học cho nó khỏe”. Bố tôi biết
tôi sợ nên an ủi:”con đừng sợ, người Tây người ta rất qúy những đứa học giỏi. Rồi
đây bố với anh Đức kèm con thật giỏi để cuối năm con lĩnh thật nhiều phần thưởng.
Học trường Tây mới có tương lai, con ạ”. Ngày ấy, tôi chưa biết tương lai là
gì. Tôi chỉ biết tương lai là chiều nay tôi phải đi đoạn đường Thập Gía với bao
nỗi lo sợ.
Tôi nghĩ đến những
đứa bạn hiền lành, và nhất là từ đây, những lúc tan trường không được sơ
Cêcilia đưa về nữa, một nỗi buồn mênh mông xâm chiếm tâm hồn tôi.
Cô giáo trường mới
của tôi là một bà đầm tuổi trung niên. Bà cũng rất dịu dàng. Tôi ngồi bàn đầu
bên cạnh Gilbert, người tây lai. Anh có hai người chị. Thỉnh thoảng giờ ra chơi,
hai chị có đến gập tôi và cho quà. Năm đầu học trường tây trôi qua êm đềm và
hai năm sau cũng êm đềm như vậy.
Năm thứ tư, tôi đã
quen thông thổ ở trường rồi. Không những tôi không còn nhút nhát nữa mà bây giờ
tôi đã là một thằng ”tướng qủy”. Tôi đã bắt chước chửi thề và nói tục không
khác gì những thằng mất dậy ở trường.
Tôi thường hay đến
trường sớm để làm homework cho mấy thằng con
nhà giầu. Mỗi bài tôi được trả năm đồng (năm đồng ngày ấy mua được tô phở).
Những đứa không có tiền tôi bắt làm lính cho tôi sai bảo. Vì không làm bài tập
thì thày giào Tây bợp tai cho cái nào là long óc cái ấy.
Nhưng càng ngổ ngáo
bao nhiêu thì lại càng nhiều kẻ thù bấy nhiêu. Có lần tôi đã nghe những đứa nói xấu tôi, có đứa hục hặc với tôi lúc
ra chơi, và tệ nhất là có những đứa đã nói xấu mẹ tôi.
Lúc này bố tôi phải
đi làm ở Saigon. Hàng ngày mẹ tôi phải mang tôi đến trường. Những lúc đến trường
sớm, mẹ tôi thường hay nói chuyện với bà hàng kem, người cùng xóm. Lúc không có
bà, mẹ tôi ngồi đọc kinh.
Có những đứa nói mẹ
tôi quê mùa, răng đen và nhiều thứ không được êm tai mấy. Có đứa xấu miệng hơn
nói mẹ tôi bị thần kinh mỗi lần mẹ đọc kinh. Có đánh nhau hoài cũng không bịt được
miệng chúng.
Quả thật, nếu so với mẹ thằng Tiến, đi xe Vespa trở nó đi học, mẹ
thằng Phú lái xe ô tô, mẹ thằng Lâm mặc váy ngắn, áo sơ mi hở ngực, với hai quả
cantaloupe hai bên bên, thì mẹ tôi thật là quê mùa.
Lúc này đây, vì sự
quê mùa của mẹ, tôi đã ngần ngại đi với mẹ tới trường. Và là một cực hình khi
nghe những đứa chê bai mẹ tôi. Đã có những lúc tôi thầm trách bố tôi, học giỏi,
đi tây, mà sao lại không lấy một người vợ như mẹ thằng Tiến, chẳn hản, cho tôi
đỡ quê.
Cho đến một buổi trưa,
chúng tôi rủ nhau lên rừng chơi bắn súng. Giữa cuộc chơi hai phe cãi nhau. Có một
thằng chỉ tôi, nói mẹ tôi thế này thế kia. Tôi nhảy đến quyết ăn thua đủ với
nó, nhưng có một anh lớn học trên tôi và lớn xác hơn tôi nữa, chặn tôi lại và
nói thầm bên tai tôi:”mày không lại nó đâu, nó khỏe và bố nó làm to lắm”. Anh dắt
tôi đến nửa đường rồi mới trở lại chơi tiếp. Tôi hậm hực trở về nhà dù, chỗ mẹ
tôi ngồi. Mẹ tôi hỏi sao lại về sớm vậy và tôi đã trút lên mẹ bao nhiêu lời phũ phàng, mất dậy. Mẹ tôi đỏ mặt
lên, phần thì xấu hổ với bà hàng kem, phần thì quá ngỡ ngàng trước sự hỗn láo của
tôi.
Rồi chuông reo, tôi
lẳng lặng đến cổng trường.
Khi đi được hai
trăm bước, tôi quay đầu trở lại. Lúc này những người đàn bà văn minh đã lái xe
về hết rồi, bà hàng kem đã về trước khi chuông reo, chỉ còn lại mẹ tôi với đôi
vai gầy, bước đi thẫn thờ. Hai hàng nước mắt tôi bỗng trào ra. Tôi chạy trở lại cổng
trường. Nhưng cổng đã khóa. Tôi gọi mẹ, nhưng nghẹn lời không nói ra được. Ông
Tây đen gác cổng vỗ vai tôi nói gì tôi không nghe rõ. Tôi chỉ nghe được tiếng
vít (vite là nhanh), rồi ông chỉ đồng hồ, kẻ một đường từ số hai đến số sáu.
Tôi ngồi vào lớp học
mà linh hồn tôi bị Thiên Thần Chúa lôi xuống địa ngục cho nếm mùi hỗn hào. Đến
khi tôi đọc bài mà thằng Tiến phải nhắc tôi đến ba lần mà tôi vẫn không biết
tôi ở đâu. Cả lớp cùng cười khi ông tây hòi tôi “mày đang ở cung trăng hả”.
Giờ ra chơi, tôi đi
lang thang trên sân trường nhìn xuống con lộ mong được gập mẹ. Có những lúc ra
chơi, gập lúc mẹ tôi đi chợ về, tôi lao xuống bốc một nắm sim nhét đầy túi vô lớp
ăn. Nhưng hôm nay tôi chẳng buồn ăn. Thằng Định cho tôi quả cóc thật to mà tôi
vẫn để nguyên.
Giữa lúc tôi đang
ngụp lặn trong cơn hối hận dày vò, một người đàn bà gánh hai hũ mắm tôm qua sân
trường. Tôi thấy mặt bà buồn so, hình như là bán ế. Bổng đâu có hai đứa học trò
chơi đuổi bắt thế nào mà đâm sầm vào hai cái hũ. Mùi mắm tôm từ hai cái hũ vỡ
loang ra cả một góc sân. Tụi học trò bu quanh lại. một tay bịt mũi, còn miệng
thì oang lên trong sự đau khổ của người đàn bà. Nhìn thấy khuôn mặt nhăn nhúm của người đàn bà, tôi chạnh nhớ đến mẹ
tôi. Tôi đến với bà cũng vừa lúc ông Tây, thày giáo tôi, cũng bước tới xem tính
hình. Tôi nói với ông Tây: “Monsieur, monsieur, les deux garcons ont…đánh đồ mắm
tôm…de cette pauvre femme” (ông ơi, hai thằng con trai đã đánh đổ mắm tôm của
người đàn bà khốn khổ này).
Tôi còn muốn nói
nhiều, hầu mong đánh động được lòng thương xót của ông Tây, nhưng khả năng tiếng
tây của tôi lúc bấy giờ chỉ có thể…rặn ra được bấy nhiêu thôi. Ông Tây chỉ lạnh
lùng giải tán lũ học trò để người đàn bà nghèo khổ trước cảnh mất mát tài sản lớn
lao. Hai đứa con của bà chạy ra đón mẹ, hy vọng được đồng quà về chợ của mẹ.
Nhìn thấy tình hình điêu tàn của mẹ, chúng không dám mở miệng. Bỗng nhiên bà
giáng một cái tát thật mạnh vào đứa con gái lớn, rồi ba mẹ con ôm nhau khóc.
Nhìn thấy cảnh tượng bi đát ấy, trong một phút bốc đồng, tôi đã trút hết số tiền
để dành được, từ việc chép bài cho những đứa nhà giầu, cho người đàn bà khốn khổ
ấy.
Người đàn bà chộp
ngay lấy số tiền tôi cho, vì sợ rằng không nhanh tay thì tôi sẽ đổi ý (vì rất
có thể tôi sẽ đổi ý, vì số tiền này rất lớn đối với tôi). Bà mẹ cảm ơn tôi và hứa
khi đi nhà thờ sẽ cầu nguyện Chúa trả công bội hậu cho tôi!
Tôi tự hỏi không biết tôi có làm thêm lỗi lầm với mẹ
tôi nữa hay không. Vì đã bao lần khi đi chợ với mẹ, mỗi lần vào quán phở, mẹ chỉ
dám gọi hai tô phở cho hai anh em thôi, còn mẹ thì chờ đến cuối bữa húp lại những gì
còn thừa của hai anh em thôi. Tôi có tiền ấy mà chẳng bao giờ bao mẹ ăn một bữa
cho trọn vẹn.
Rồi chuông báo hiệu hết giờ ra chơi.
Hai giờ cuối cùng là hai giờ Việt văn. Được thày giáo
Việt nam giảng sử ký Việt nam bằng tiếng Việt là hai giờ tôi thích nhất trong
tuần. Tôi say sưa nghe thày giảng mà chuông hết gìờ lúc nào không hay.
Khi đến cổng trường, mẹ tôi đã chờ sẵn. Tôi đưa cập
cho mẹ cầm và đã quên đi những gì buổi trưa đã làm mẹ buồn.
Đến ngã ba Duy Tân, tôi gập ba mẹ con Trung, chị Hiền
và mẹ Trung. Trung là bạn học ngày tôi còn học trường Ma sơ. Lúc này Trung đang
dắt xe đạp, đằng sau đèo hai thùng nước gạo về cho heo ăn. Tôi theo chị Hiền đứng
đằng sau xe đạp giữ thăng bằng cho hai thùng nước gạo.
Thấy lúc này tôi học trường Tây, mặc quần áo tươm tất,
hai chị em Trung phục lắm. Tôi được dịp trổ tài …nói phét. Hai chị em Trung được
tôi kể chuyện thích quá, cười híp cả mắt lại. Trung cười thế nào mà vô tình đi
qua cái ổ gà lớn. Xe của Trung chúi về phía trước, bánh sau của xe chồm lên rồi
đổ về phía tôi. Tôi lãnh đủ quá nửa thùng nước gạo vào người. Mẹ tôi vội chạy lại
đỡ chiếc xe đạp cho được thăng bằng, nhưng loay hoay mãi cũng không giúp Trung
nhấc nổi cái bánh xe ra khỏi cái ổ gà. May quá, lúc ấy có anh lính đi ngang
qua, nhấc được xe qua khỏi vùng “giông bão”.
Tình hình lúc này đã tạm yên, hơi buồn vì mất đi hơn
nửa phần thức ăn cho heo. Tôi chuẩn bị tiếp tục câu chuyện đang bị bỏ ngang, thì
một bàn tay giáng lên đầu Trung mười mấy cái cốc long cả óc. Sau đó bà tiến tới
chị Hiền, mẹ tôi biết ý chạy lại, nhưng chị Hiền đã bị một cái tát nổ đom đóm mắt.
Bà còn đinh lấy que vụt cho hai đứa con, nhưng mẹ tôi đã giựt được vất đi.
Tôi còn biết nói gì đây vì biết rằng “nói năng chi cũng
thừa”, khi thấy chị Hiền và Trung cúi gầm mặt xuống vì xấu hổ bị mẹ đánh. Tôi tự
hỏi sao trên đời này lại có người đàn bà ác độc như vậy. Lúc con cái gập khó khăn
thì đứng trơ ra, đã không giúp gì cho con mà lại còn đánh đập nữa. Nhà đã nghèo
mà lại chát đầy phấn son, ăn diện thô kệch không đúng hoàn cảnh.
Đến ngã ba Nam Thiên, chúng tôi chia tay. Mẹ tôi cố
năn nỉ bà Ba, mẹ của Trung, đừng đánh hai chị em nữa. Mẹ quy trách lỗi do tôi gây
ra nên mới xẩy ra nông nỗi. Mẹ hứa sẽ nhờ
chị Thơm, hàng xóm nhà tôi, gánh thùng bã đậu
đến đền bà. Bà trả lời mẹ tôi bằng khuôn mặt lạnh lùng đến phát ớn. Qua
màn lệ, chị Hiền thì thầm bên tai tôi:”mẹ của Thọ tốt quá” rồi chị nghẹn lời.
Tôi tự hỏi nếu có người mẹ như thế chắc chẳng bao giờ
tôi dám ngửng mặt nhìn đời. Tôi nhìn sang tượng Chúa Giêsu làm vua ở nhà thờ Đa
minh và thầm nguyện cho chị em Hiền, Trung đừng bị đòn và nguyện xin Chúa đoái
thương cho những ai đoạn trường.
Lời nguyện cầu vừa dâng lên thì một niềm vui len lỏi
trong tâm hồn tôi khi so sánh mẹ tôi với bà Ba. Tôi nhớ lại lời của bà hàng mắm
tôm:”Chúa sẽ trả công bội hậu cho cậu”. Phải chăng Chúa đã trả công cho tôi khi
giúp đỡ người đàn bà hoạn nạn. Chúa là tình yèu. Ánh sáng tình yêu Chúa đã soi
dẫn cho tôi biết được bao hy sinh của mẹ, bao nhiêu công việc khó nhọc bẩn thỉu
mẹ đều gánh hết. Người mẹ đáng yêu như vậy, chỉ vì tôi chơi với những đứa bạn
không tốt, nên đã hất hủi mẹ. Tôi nắm lấy tay mẹ và một niềm vui tràn dâng
trong tâm hồn, và “con tim đã vui trở lại”. Tôi đã trút bỏ được gánh nặng cả
nghìn cân đã đè nén tâm hồn tôi bao tháng ngày qua. Từ đây tôi không còn lo sợ mặc
cảm khi đi bên người mẹ quê thân thương này nữa. Và người đã mở rộng cánh tay đón
nhận sự trở về của đứa con…hoang đàng.
Nguyễn Trường Thọ

No comments:
Post a Comment